Bùi Thế Đạt (1704-1778): Công tích và Chính danh Di tích

HBVN

Câu đối của triều đình viếng Đại tư đồ Đoan Quận công Bùi Thế Đạt, nhân dịp nhà vua phong thần, ban 'Thụy hiệu'(1) cho ông và (cũng là dịp) quê hương ông vâng sắc mệnh lập đền thờ thờ ông, hiện còn rõ nét trên Tấm bia số I, dựng tại đền (tục gọi là) "Đền Quan Lớn Bùng", là sự đánh giá về công lao và đức nghiệp một công thần võ tướng, người xã Tiên Lý huyện Đông Thành, thời Lê - Trịnh: Đại tư đồ Đoan Quận công Bùi Thế Đạt.

"Tam công cực phẩm triều nguyên lão/Thất tự huy xưng quốc phúc thần"

Nghĩa là: Ngài là nguyên lão vào bậc Tam công, phẩm cấp cao nhất của triều đình; 'Bảy chữ' gia tặng Ngài, khi phong thần (7 mỹ tự (2) gia phong) làm vẻ vang thêm vị phúc thần vào hàng 'quốc tế' (3).

Nghệ An ký trong mục từ "Bùi Thế Khanh Bùi Thế Đạt", chương "Những võ quan có tên trong sử sách" dẫn từ Đại Việt sử ký (tục biên), chép: "Năm Cảnh Hưng 14 (1753), Đoan Nghiêm hầu Bùi Thế Đạt giữ chức Đốc lĩnh trấn Sơn Tây, Hưng Hóa tiễu trừ sơn tặc; Năm 1763, trấn thủ Nghệ An. Sau đó, kiêm chức đốc suất, tùy nghí sắp đặt công việc. Tại đây, thực thi quyền hành và  phận sự được giao, ông đã dâng biểu điêu trần 5 điều, được (triều đình) ra sắc mệnh ban hành; Cũng thời gian này, Trung Đỉnh hầu Bùi Thế Khanh (anh ruột của ông) Lưu thủ trấn Thái Nguyên. Vua cho rằng, Nghệ An là trấn ở xa,(bấy giờ) có nhiều quan lại tham ô, xét Thế Đạt người có đức tính thuần cẩn, bèn giao cho việc xem xét tình trạng nhũng lãm của các nha môn trong hạt. Nếu là hạng thừa hiến thì được phép xét tội; nếu là hạng châu huyện thì được phép dẹp bỏ, cốt để làm trong sạch nội bộ hàng ngũ quan lại hạt này".





4 trang phần chữ Hán Nghệ An ký (Ảnh Bùi Duy)


Năm thứ 28 (1767), Lê Duy Mật ở Trấn Ninh sai tướng cướp phá Nghệ An, triều đình sai Lê Đình Châu đem 50 đội quân, dưới sự chỉ huy của Đốc suất Nghệ An Bùi Thế Đạt để đánh. Lại sai Nguyễn Nghiễm là Hiệp đốc suất đạo Nghệ An cùng Thế Đạt bàn tính kế hoạch đánh giặc.

Năm thứ 30 (1769), lại đưa quân đánh Trấn Ninh, lấy Đoan quận công Bùi Thế Đạt làm thống lĩnh, chia binh sĩ Nghệ An, Thanh Hóa, Sơn Tây làm 3 đạo quân tấn công.

Năm thứ 31 (1770), Bùi Thế Đạt cùng với Phan Thái hầu Nguyễn Phan đốc suất binh sĩ hai đạo Thanh Hóa, Nghệ An trèo núi mà vào Trấn Ninh. Đảng của Lê Duy Mật là Lại Thế Triệu khuyên thủ hạ là Lê Văn Bản dâng núi cho Thế Đạt. Nguyễn Phan bèn dựng phi lâu bắn vào thành giặc. Duy Mật tự thiêu chết. Ba đạo chỉnh đốn quân khải hoàn. Khi xét công đánh Trấn Ninh, thăng Đoan quận công Bùi Thế Đạt lên Đại tư mã.

Năm thứ 32 (1771), gia phong cho bọn Đoan quận công Bùi Thế Đạt mỗi người hai chữ 'công thần', khắc vào bài vàng ban cho.

Năm thứ 38 (1777), Đại tư đồ Đoan quận công Bùi Thế Đạt về trí sĩ.

Con Thế Khanh là Thuần Trung hầu và con Thế Đạt là Thường Trung Hầu đều đỗ tạo sĩ và đều kết hôn với quận chúa của chúa Trịnh. Thường làm Trấn thủ Nghệ An. Thời Tây Sơn, Thuần bị Nguyễn Chỉnh hại, Thường cũng bị Tây Sơn giết.

Nhà các ông bằng tay sạch làm nên, anh em đều là danh tướng. Bình sinh vốn chất phác cần kiệm, làm quan nhân từ, ơn huệ với người, rất được lòng dân. Song chỉ vì cớ mở rộng biên cương mà thành di họa vô cùng, tôn miếu trúc đổ. Than ôi!

"Chỉ vì cớ mở rộng biên cương mà di họa…tôn miếu sụp đổ", Mãi tới hơn 80 năm sau, quê hương Ngài truy lại tích xưa, lập đền thờ phụng, đồng thời tham khảo sử sách ghi lại công tích và thụy hiệu của Ngài và các bậc sinh thành khắc lên bia đá cho đời sau sáng tỏ. Trước đố, tại Phủ Hiến, Thông Minh hầu nghiệm thấy Ngài rất linh ứng, bèn lập bàn thờ và sai binh sĩ lập đền thờ Ngài nơi doanh cũ.






2 tấm bia do Trần Mạnh Cường trực tiếp khảo sát, sao nguyên văn, dịch nghĩa (Ảnh Bùi Trọng Cầu)


Tấm bia số I dựng vào Thượng tuần tháng 11 năm Giap Tý, Tự Đức 17(1864), mở đầu bằng đoạn văn: "Trong khoảng trời đất, cái bất hủ là đá, mà cái càng bất hủ chính là công đức của Tôn thần Bùi tướng công Đôn hậu Dương vũ Công thần Chưởng phủ sự Đại tư đồ Đoan quận công, và các bậc sinh thành của Ngài: (1) Hiển tổ là Chiêu nghị Đại tướng quân Điện tiền đô hiệu điểm, tước Cao Đại hầu đại vương; (2) Hiển khảo là Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân, tặng Thái bảo Bùi Quận công đại vương…" Và phân nội dung thuật lại hàn trạng công tích của Ngài như sử sách đã chép.

Tấm bia số II, dựng vào trung tuần tháng 10 năm Giap Tý, Tự Đức 17(1864), Do Thân hào, Tổng lý của 3 tổng: Vạn Phần, Cao Xá, Lý Trai tại hai huyện Đông Thành và Yên Thành cùng thờ phụng, cung tiến. Đoạn kết của Bia số II, ghi rõ số ruộng đất của 3 tổng bàn giao cho xã Tiên Lý để lo việc thờ phụng Ngài Đại Tư đồ và Quận phu nhân kèm theo tước hiệu cùng ngày giỗ của Ngài và Quận phu nhân.

Như vậy,cả hai tấm bia đều ghi rõ Đền được dựng lên để thờ phụng  Đại tư đồ Đoan quân công cùng phu nhân và các bậc sinh thành của Ngài. Chỉ vì, bia không đề tên nên về sau tục thường gọi là Đền Quan Lớn Bùng, gây nên sự nhầm lẫn về chính danh Di tích.

Chú thích
(1) Thụy hiệu: Tên kèm đặt cho người vừa quá cố, chưa mai táng.
(2) Bảy chữ tức 7 mỹ tự có trong sắc phong thần và ban Thụy hiệu gồm; Đức lượng - Dụ liệt - Khuông vận - Dụ khánh - Hòa giản - Trang túc - Nhân nghị
(3) Quốc tế: Tang lễ và Tế lễ  hàng năm, theo nghi thức nhà nước

Tư liệu xử lý thông tin:

- Nghệ An ký, bản chữ Hán, in khắc ván tr 121a đến tr122b
- Văn bia số I, số II do Trần Mạnh Cường sao nguyên văn chữ Hán trên bia, phiên âm dịch nghĩa (Ông Bùi Trọng Cầu BLL Họ Bùi Nghệ An cung cấp)

Bùi Văn Chất

CÙNG CHUYÊN MỤC